Trách nhiệm phải chịu khi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật?

Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật: 1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động...

Hỏi: Ngày 3/12/2015 em đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vô thời hạn và không báo trước với công ty. Em đã làm việc tại đây 7 tháng, thời gian thử việc 2 tháng 4/5/2015-2/7/2015, ngày kí hợp đồng chính thức là 3/7/2015 dựa trên Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003. Công ty yêu cầu em đền bù hợp đồng là nửa tháng lương. Em đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động qua email với lý do gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng. Nhưng lý do thực sự là chế độ dành cho nhân viên của công ty không tốt, điển hình là những quy định sau: Tiền trợ cấp giờ làm thêm là 50.000 đồng mỗi ngày nếu thời gian tăng ca lớn hơn hoặc bằng 2h, nếu chỉ làm thêm dưới 2h thì không được trả lương, mức lương thấp nhất của toàn bộ nhân viên ở công ty là 4.807.000 đồng, làm việc từ thứ 2-thứ 6 là 8h/ngày, thứ 7 3h/ngày. Không cho phép thời gian nghỉ ngơi mỗi ngày 30 phút đối với lao động nữ trong thời gian hành kinh. Công ty đã thành lập 5 năm, các nhân viên có thời gian làm việc chính thức trước tháng 7/2015 thì công ty không giao kết hợp đồng và vẫn trích lương của nhân viên để đóng BHXH, sau thời điểm này, toàn bộ nhân viên kí hợp đồng vô thời hạn. Nhiều trường hợp nhân viên trong công ty làm việc ngày lễ không được hưởng lương.v.v. Em mong Luật sư tư vấn giúp em, nếu em không thực hiện đền bù hợp đồng thì dẫn đến hậu quả pháp lý gì? Nếu em bị kiện ra tòa vì không đền bù hợp đồng thì em có thể sử dụng những dẫn chứng trên để bảo vệ mình hay không? (Trần Tuấn Hưng - Nha Trang)



>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Ngô Đức Cường - Tổ tư vấn pháp luật lao động của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Hợp đồng lao động của anh (chị) là hợp đồng không xác định thời hạn mà anh (chị) lại đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với công ty và không thực hiện đúng về nghĩa vụ báo trước, theo đó anh (chị) đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Điều 43 Bộ luật Lao động 2012 quy định: "Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật: 1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. 2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền lương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước...".
Như vậy, việc công ty yêu cầu anh (chị) bồi thường là hoàn toàn đủ cơ sở. Nếu anh (chị) không thực hiện nghĩa vụ bồi thường, công ty kiện anh (chị) ra tòa, khi tòa án đưa ra bản án yêu cầu anh (chị) phải bồi thường cho công ty thì anh (chị) bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường, việc anh (chị) không thực hiện bồi thường sẽ có cơ quan thi hành án cưỡng chế việc bồi thường của anh (chị).
Ngoài ra, việc công ty yêu cầu anh (chị) bồi thường được tòa án chấp thuận, anh (chị) sẽ còn phải chịu một khoản tiên án phí. Khi bị công ty kiện ra tòa, anh (chị) sẽ là bị đơn trong vụ án dân sự, theo Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 quy định: "Điều 27. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: ... 2. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. 4. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận...".
Việc anh (chị) đưa ra những dẫn chứng về việc chế độ đãi ngộ dành của công ty dành cho nhân viên mà anh (chị) kể trên làm căn cứ để bảo vệ mình hoàn toàn được khi đó là sự thật và anh (chị) có đủ căn cứ để chứng minh cho việc đó. Bộ luật tố tụng dân sự 2005 quy định: "Điều 79. Nghĩa vụ chứng minh: 1. Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. 2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh. ... 4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó".

Khuyến nghị:
  1. Để có tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198.
  2. Nội dung tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.