Thủ tục lập di chúc và các quy định có liên quan

Di chúc hợp pháp nếu đáp ứng điều kiện quy định tại 652 Bộ luật Dân sự năm 2005

Hỏi: Bố mẹ tôi sinh ra được 4 người con (2 nam 2 nữ). 2 chị gái đã đi lấy chồng, anh cả đã có đất riêng chỗ khác (tôi là út). Bố tôi đã qua đời đc 2 năm, chỉ còn mình mẹ tôi. Hiện tại tôi đang ở cùng mảnh đất chung với mẹ tôi. Mẹ tôi muốn làm di chúc chuyển quyền sử dụng tất cả đất đai hiện có cho tôi vì các anh chị đã có chỗ riêng và chỉ mình tôi chưa có sổ đỏ đất riêng. Xin hỏi thủ tục làm di chúc cho mẹ tôi như thế nào để được chuyển tên sổ đỏ sang cho tôi? Có cần họp gia đình và lấy chữ kí các anh chị em không? Quy định thế nào? (Quỳnh Trang - Hải Dương)
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Thành Đạt - Tổ tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Nếu như người đứng tên trong sổ đỏ hiện tại là mẹ bạn, thì mẹ bạn có thể lựa chọn 1 trong 4 cách lập di chúc sau:

1. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng theo quy định tại Điều 655 BLDS

Mẹ bạn phải tự tay viết và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 653 của BLDS về nội dung của di chúc bằng văn bản.

2. Lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, theo quy định tại Điều 658 thì thủ tục được thực hiện như sau:

-Người lập di chúc (trong trường hợp này là mẹ bạn) tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn để công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố;
-Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình.
-Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc;
Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.
3. Di chúc do công chứng viên lập tại chỗ ở theo quy định tại Điều 661 BLDS

Mẹ bạn cũng có thể yêu cầu công chứng viên tới chỗ ở của mình để lập di chúc. Theo đó, thủ tục lập di chúc tại chỗ ở được tiến hành như thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng theo quy trình Lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nêu tại phần (1).

4. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng theo quy định tại Điều 656 BLDS

Trong trường hợp mẹ bạn không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc. Tuy nhiên, trong trường hợp này cần lưu ý, mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;

3. Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự.

Chú ý, Về nội dung của bản di chúc,

Tại Điều 653 BLDS năm 2005 cũng có quy định:

“1. Di chúc phải ghi rõ:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản;

đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

2. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc”.

Do đó, dù lựa chọn hình thức lập di chúc bằng văn bản nào trong 4 hình thức đó, thì nội dung của bản di chúc cũng cần phải đảm bảo các nội dungnêu trên theo quy định của pháp luật.

Khuyến nghị:
  1. Để có tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198.
  2. Nội dung tư vấn pháp luật thừa kế mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.