Tặng cho tài sản khi ly hôn được thực hiện thế nào?

Luật sư tư vấn tặng cho tài sản khi ly hôn...

Hỏi: Hiện em đang có một số thắc mắc về phân chia tài sản trong khi ly hôn, em mong Công ty có thể giải đáp và hướng dẫn em cụ thể để dành lại những quyền lợi. Hiện em và vợ kết hôn đã 10 năm, đã có với nhau 03 đứa con, nhưng do cuộc sống hôn nhân có quá nhiều mâu thuẫn, nên dẫn đến việc ly hôn. Hiện tài sản chung của vợ chồng là 01 căn nhà do vợ em đứng tên, giá trị căn nhà khi xây dựng ước đạt khoảng 05 tỷ đồng.Nhưng trong quá trình xây dựng vợ chồng em có vay ngân hàng 01 tỷ đồng để tu bổ thêm cho căn nhà, hiện tại khoản vay đó em là người đứng ra trả đều hàng tháng và hiện tại còn nợ lại ngân hàng khoảng 800 triệu. Khi xây dựng căn nhà hầu hết tất cả các chi phí liên quan đến việc xây dựng đều do tiền em làm ra, nhưng em vẫn để cho vợ em đứng tên, vấn đề là khi ra Toà em muốn để lại toàn bộ giá trị căn nhà cho 03 đứa con em, nhưng theo luật thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng thì phải chia đôi, nhưng vợ chồng em không thể tự hoà giải được với nhau trong vấn đề tài sản. Vậy thì em nên làm gì theo quy định pháp luật để có lợi về mặt pháp lý cũng như có thể uỷ quyền toàn bộ tài sản căn nhà cho 03 đứa con em? (Thái Hòa - Hà Nam)
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Đào Thị Thu Hường - Tổ Tư vấn pháp luật Hôn nhân và gia đình - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Do ngôi nhà được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên đây sẽ được xác nhận là tài sản chung hợp nhấp của vợ chồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”.

Mà theo quy định tại Điều 31 Luật này về giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng: “Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng”.

Như vậy căn cứ vào các quy định trên áp dụng trong trường hợp này, nếu bạn muốn để lại toàn bộ căn nhà cho 3 người con thì bạn cần thỏa thuận được với người vợ.Nếu vợ bạn đồng ý thì bạn và vợ bạn làm thủ tục tặng cho toàn bộ căn nhà cho 3 người con. Trường hợp vợ bạn không đồng ý và vợ chồng bạn không tự thỏa thuận được với nhau về vấn đề tài sản thì khi tiến hành thủ tục ly hôn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề chia tài sản.

Lúc này Tòa án sẽ giải quyết tài sản theo quy định tại Khoản 2 Điều 59 Luật này về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn:“ Điều 59: Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

Như vậy, lúc này căn nhà và khoản nợ phát sinh từ căn nhà sẽ được chia đôi theo nguyên tắc trên, sau khi đã xác định được phần của bạn là giá trị một nửa căn nhà thì bạn có thể làm thủ tục tặng cho 3 người con phần của mình.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: info@luatviet.net.vn.
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật Hôn nhân và gia đình mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.