Ly hôn khi đang mang thai con thứ hai được 6 tháng

Luật sư tư vấn của Công ty Luật TNHH Everest về thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai con thứ hai được 6 tháng...

Hỏi: Tôi năm nay 25 tuổi, đã kết hôn được gần 2 năm. Do sau khi kết hôn xảy ra nhiều mâu thuẫn càng ngày càng trầm trọng nên tôi quyết định ly hôn. Hiện tại tôi đang có 1 bé gái được 15 tháng tuổi và tôi cũng đang mang bầu được 6,5 tháng.Giờ tôi muốn làm thủ tục ly hôn, nhưng đang rất lo lắng về tranh chấp quyền nuôi con. Anh ta đòi nuôi bé gái 15 tháng tuổi và nói sẽ đưa ra tòa để phán xét. Tôi thì rất thương con, không muốn bé sống trong môi trường lúc nào cũng nghe chửi bới, văng tục, và luôn có tinh thần dạy con bằng việc đánh đập. Rất mong nhận được phản hồi sớm của quý công ty. (Vũ Thị Kiều - Hải Dương)

>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Thành Đạt - Tổ tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Thứ nhất, về đơn phương ly hôn:

Theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014về các trường hợp đơn phương ly hôn:

"1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia".

Từ căn cứ trên, bạn có được quyền đơn phương ly hôn theo khoản 1 của quy định trên. Bạn có thể tham khảo hướng dẫn tại Mục 8 về Căn cứ ly hôn tại ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Thứ hai, về quyền nuôi con:

Theo Điều 81 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:
"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con".

Như vậy, con đầu của bạn mới được 15 tháng và đang mang thai gần 7 tháng cháu thứ hai do đó con của bạn sẽ được trực tiếp giao cho bạn nuôi. Mặt khác, xét các yếu tố khác với mục đích tìm được người có thể đáp ứng tối đa yêu cầu cho sự phát triển của đứa trẻ thì Tòa án sẽ dựa trên 3 yếu tố sau:
+ Điều kiện về vật chất bao gồm: ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập…các yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ;
+ Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn,… của cha mẹ.
+ Nguyện vọng của con: con mong muốn được ở với ai (chỉ áp dụng với con từ đủ 7 tuổi trở lên).

Với những yếu tố như vậy, trong trường hợp của bạn, tuy nghỉ sinh bạn không được nhận mức lương hằng tháng nhưng tài sản riêng của bạn cùng với việc sẽ đưa các con về sống tại ngôi nhà chung cư của mẹ bạn; phía chồng bạn lại có hành vi bạo lực ngay khi bạn đang mang thai. Do đó việc bạn được nhận quyền nuôi con sẽ cao hơn.

Khuyến nghị:

  1. Để có tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198.
  2. Nội dung tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.