Hợp đồng vận chuyển hàng hóa được pháp luật quy định như thế nào?

Vì hàng hóa cũng là một loại tài sản nên các quy định về vận chuyển hàng hóa cũng giống như các quy định pháp lý về hợp đồng vận chuyển tài sản nói chung...

Hỏi: Đề nghị Luật sư tư vấn giúp tôi những khía cạnh pháp lý liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa. Tôi xin cảm ơn. (Vũ Đăng- Hà Nội)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198


Luật gia Đoàn Thị Bích - Tổ tư vấn pháp luật Doanh nghiệp của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:
Hợp đồng vận chuyển tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển có nghĩa vụ chuyển tài sản đến địa điểm đã định theo thỏa thuận và giao tài sản đó cho người có quyền nhận, bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả cước phí vận chuyển.

Vì hàng hóa cũng là một loại tài sản nên các quy định về vận chuyển hàng hóa cũng giống như các quy định pháp lý về hợp đồng vận chuyển tài sản nói chung

Thứ nhất: Khái niệm

Hợp đồng vận chuyển hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển có nghĩa vụ chuyển hàng hóa đến địa điểm đã định theo thỏa thuận và giao hàng hóa đó cho người có quyền nhận, bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả cước phí vận chuyển.

Thứ hai: một số đặc điểm về hợp đồng vận chuyển hàng hóa

– Hợp đồng vận chuyển hàng hóa có thể được giao kểt bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Trong trường hợp các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định hợp đồng phải được lập thành văn bản, thì các bên phải tuân theo hình thức đó. Trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa, nếu có vận đơn thì vận đơn là bằng chứng của việc giao kết họp đồng giữa các bên. Đối tượng của việc vận chuyển hàng hóa là hàng hóa được pháp luật cho phép buôn bán lưu thông và vận chuyển.

– Bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên vận chuyển đúng thời hạn, địa điểm và đóng gói theo đúng quy cách đã thoả thuận. Nếu hàng hoá có bao bì, đóng gói, khi vận chuyển phải thực hiện theo quy định chung về tiêu chuẩn để bảo đảm an toàn khi vận chuyển. Khi các bên không có thoả thuận khác, bên thuê vận chuyển phải chịu chi phí bổc xếp hàng hóa lên, xuống phương tiện và phải thanh toán chi phí phát sinh nếu bên vận chuyển phải chờ đợi hàng vận chuyển hoặc phải nộp phạt vi phạm theo thoả thuận.

– Mức cước phí vận chuyển do các bên thỏa thuận; nếu pháp luật có quy định về mức cước phí vận chuyển đối với loại hàng hoá đó thì áp dụng quy định mức cước phí của pháp luật. Theo nguyên tắc chung, bên thuê vận chuyển phải thanh toán đủ cước phí vận chuyển khi hàng hóa đã được chuyển lên phương tiện, trừ trường hợp các bên trong hợp đồng có thỏa thuận khác.

– Bên vận chuyển phải bồi thường thiệt hại cho bên thuê vận chuyển nếu để hàng hóa bị mất mát, hư hỏng trong quá trình vận chuyển. Nếu bên thuê vận chuyển trực tiếp áp tải, trông coi thì bên vận chuyển không phải chịu trách nhiệm trông giữ hàng hoá.

– Bên vận chuyển còn được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu xảy ra tình trạng bất khả kháng làm tài sản bị mất mát, hư hỏng, bị huỷ hoại, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Ngược lại, bên thuê vận chuyển phải bồi thường thiệt hại cho bên vận chuyển và người thứ ba nếu hàng hóa vận chuyển có tính chất nguy hiểm, độc hại mà không có biện pháp đóng gói, đóng gói không đúng quy cách kỹ thuật đế bảo đảm an toàn trong quá trình vận chuyển.

– Hợp đồng vận chuyển tài sản được coi là hoàn thành khi bên vận chuyển đã trả hàng hóa đầy đủ, đúng thời hạn và địa điểm. Nếu không có người nhậnhàng hóa, thì hợp đồng được coi là hoàn thành khi hàng hóa đã được bên vận chuyển gửi vào nơi gửi giữ bảo đảm số lượng, chất lượng và các điều kiện khác; trường họp này, bên vận chuyển phải báo cho bên thuê vận chuyển hoặc bên nhận tài sản về việc gửi giữ.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: info@everest.net.vn.
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật Hôn nhân và Gia đình mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.