Giải quyết trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cho người lao động?

Các trường hợp người lao động được hưởng trợ cấp mất việc làm quy định cụ thể tại Bộ luật Lao động năm 2012.

Hỏi: Tôi làm việc tại công ty được 10 năm loại hợp đồng không xác định thời hạn (từ năm 2005 đến năm 2015 và công ty tham gia bảo hiểm thất nghiệp cho tôi từ tháng 01/2009), vào tháng 09/2015, tôi lên trình bày trưởng phòng nhân sự xin nghỉ việc và đề nghị công ty chi trả trợ cấp thôi việc trong thời gian làm việc tại công ty. Được trưởng phòng nhân sự thông báo tôi chỉ được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật? Vậy Luật sư cho tôi biết trưởng phòng nhân sự phát biểu chỉ trả trợ cấp thất nghiệp là đúng hay sai? Vì sao? Công ty có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc, mất việc, BHTN hoặc công ty trả cho tổng thời gian tôi làm việc? Cụ thể quy định hiện hành giải quyết trong trường hợp trên? (Đinh Tiến Đạt - Thái Nguyên)



>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Ngô Đức Cường - Tổ tư vấn pháp luật lao động của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Theo thông tin mà anh (chị) cung cấp thì anh (chị) làm việc cho công ty từ năm 2005. Nhưng chúng tôi không biết là anh (chị) chấm dứt HĐLĐ thuộc trường hợp nào. Bởi điều 48 BLLĐ 2012 có quy định về điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc như sau: “Điều 48. Trợ cấp thôi việc: 1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương. 2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. 3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc”.
Điều 36 BLLĐ 2012 quy định: “Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động: 1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này. 2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. 3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động. 4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này. 5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án. 6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết. 7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động. 8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này. 9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này. 10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã”.
Như vậy nếu anh (chị) nghỉ việc theo khoản 4 và khoản 8 Điều 36 nêu trên thì anh (chị) sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc. Nếu không thuộc hai trường hợp đó thì công ty sẽ phải chi trả trợ cấp thôi việc cho anh (chị). Anh (chị) tham gia bảo hiểm thất nghiệp từ 1/1/2009 mà anh (chị) làm việc cho công ty từ năm 2005 nên anh (chị) vẫn được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật. Còn chế độ trợ cấp thất nghiệp thì anh (chị) sẽ nộp hồ sơ lên Trung tâm dịch vụ việc làm ở địa phương nơi anh (chị) muốn nhận để được giải quyết.

Khuyến nghị:
  1. Để có tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198.
  2. Nội dung tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.