Có phải giám định sức khỏe để hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động không?

Khi bị suy giảm khả năng lao động, người lao động sẽ được nghỉ hưu trước tuổi.

Hỏi: Tôi sinh năm 1966. Vào công nhân biên chế chính thức từ ngày 01/3/1994. Từ ngày vào công nhân đến cuối năm 2006 tôi được bố trí lao động trực tiếp sản xuất gồm các việc: Khai thác nhựa thông + Trồng, chăm sóc rừng dự án 327, 661. Đến đầu năm 2007 Công ty chuyển đổi rừng sang trồng cao su, Tôi được bố trí lao động trực tiếp sản xuất gồm: Khai hoang trồng, chăm sóc cao su kiến thiết cơ bản cho đến nay. Năm 2015 do giá mũ cao su xuống thấp, Tập đoàn phải cắt giảm suất đầu tư chăm sóc vườn cây kiến thiết cơ bản, dẫn đến Lao động thiếu việc làm ( khoảng 50% thời gian/năm không có việc làm ). Quá trình công tác tôi luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và đóng nộp liên tục đầy đủ các loại bảo hiểm theo quy định. Nay vì thiếu việc làm, sức khỏe giảm sút quá nhiều do quá trình làm việc liên tục vùng núi ( Riêng đơn vị tôi làm việc thuộc đối tượng vùng núi 135 ) tuy nhiên hệ số khu vực chung của Công ty lại là 0,2. Trước những khó khăn trên Tôi có ý định nghĩ hưu trước tuổi, vậy tôi xin hỏi: Tôi có phải đi giám định sức khỏe không? Nếu phải đi giám định mà kết quả mất sức trên 61%, thì % lương hưu của tôi được bao nhiêu? Ngoài chế độ lương hưu trước tuổi, trường hợp như tôi có được hưởng trợ cấp gì nữa không? (Nguyễn Hồng Anh - Hải Dương)



>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Ngô Đức Cường - Tổ tư vấn pháp luật lao động của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Điều 51 Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 quy định về điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động như sau: “Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 2 của Luật này đã đóng bảo hiểm xã hội đủ hai mươi năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại Điều 50 của Luật này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: 1. Nam đủ năm mươi tuổi, nữ đủ bốn mươi lăm tuổi trở lên; 2. Có đủ mười lăm năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành”.
Như vậy, khi bị suy giảm khả năng lao động, người lao động sẽ được nghỉ hưu trước tuổi. Để chứng minh được mức suy giảm khả năng lao động bạn cần phải làm giám định sức khỏe. Do đó, bác cần lập hồ sơ giám định gửi đến Hội đồng y khoa cấp tỉnh để tiến hành giám định mức suy giảm khả năng lao động để có đủ điều kiện được hưởng lương hưu trước tuổi. Dưới đây là những giấy tờ cần thiết để lập hồ sơ giám định mức suy giảm khả năng lao động và hồ sơ hưởng lương hưu hàng tháng.
Căn cứ vào quy định trên, chỉ cần có đầy đủ giấy tờ hồ sơ để giám định sức khỏe thì bác có thể giám định tại HĐYK của tỉnh mình đang cư trú. Khi nghỉ hưu trước tuổi thì mức lương hưu được tính theo quy định tại điều 52 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 có quy định: “1. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 50 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 58, Điều 59 hoặc Điều 60 của Luật này tương ứng với mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%. 2. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 51 của Luật này được tính như quy định tại khoản 1 Điều này, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 1%.
3. Mức lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung”.

Trường hợp bác đủ điều kiện để nghỉ hưu trước tuổi theo quy định, và mức lương hưu hàng tháng tính tương tự như trường hợp nghỉ hưu đủ tuổi và sau đó sẽ bị giảm trừ mức hưởng lương hưu hàng tháng, cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi giảm trừ 1%.
Ngoài lương hưu hàng tháng thì bác được hưởng các chế độ sau: Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu theo Điều 54 Luật bảo hiểm xã hội năm 2006: “1. Người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội trên ba mươi năm đối với nam, trên hai mươi lăm năm đối với nữ, khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần. 2. Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội kể từ năm thứ ba mươi mốt trở đi đối với nam và năm thứ hai mươi sáu trở đi đối với nữ. Cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội”.

Về Thời gian đóng bảo hiểm được làm tròn theo quy định tại Điều 28 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP về Mức lương hưu hằng tháng theo Điều 52 và trợ cấp một lần khi nghỉ hưu theo Điều 54 Luật Bảo hiểm xã hội được quy định như sau: "5. Khi tính mức lương hưu hằng tháng và trợ cấp một lần khi nghỉ hưu quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 4 Điều này nếu thời gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ dưới 3 tháng thì không tính; từ đủ 3 tháng đến đủ 6 tháng tính là nửa năm; từ trên 6 tháng đến 12 tháng tính tròn là một năm".

Khuyến nghị:
  1. Để có tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198.
  2. Nội dung tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.