Chia di sản thừa kế cho con chung, con riêng

Theo điều 465 Bộ Luật dân sự 2005 có quy định: "Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận"

Hỏi: Ông bà tôi có để lại mảnh đất cho bố tôi. Bố tôi sinh được 7 anh chị em, 4 trai 3 gái. Năm 1995 mẹ tôi mất sau đó bố tôi lấy thêm bà nữa. Bà này đẻ được một cô con gái. Hiện giờ bố tôi chia mảnh đất ra làm 3 phần , 2 phần nhỏ cho 2 con trai, phần lớn để tên ông và bà vơ hai. Hai anh tôi chưa có phần và muốn ông cắt chia cho hai anh để làm nhà thờ nhưng bà vợ hai không đồng ý. Bà muốn để lại toàn bộ số đất mang tên ông bà cho con gái của bà. Và bố tôi đã nghe và hiện giờ hai anh tôi không được chia đất. Xin cho tôi hỏi: nếu bố tôi qua đời mà 2 anh tôi vẫn chưa được chia đất thì toàn bộ số đất mang tên ông bà đều thuộc về bà vợ hai hết hay 2 anh tôi có được sở hữu gì không? Nếu đưa ra pháp luật thì số đất của gia đình tôi sẽ được chia như thế nào? Mảnh đất nhà tôi khoảng hơn 1000m? (Phan Anh - Hà Nam)

>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Văn Nam - Tổ tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Thứ nhất, xác định phần di sản sẽ chia thừa kế nếu bố bạn mất đi:

Theo điều 465 Bộ Luật dân sự 2005 có quy định: "Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận".

Như vậy việc bố bạn đã cắt đất chia cho hai người con trai thực chất là hợp đồng tặng cho tài sản và đã chuyển quyền sở hữu cho 2 người con trai, do đó phần đất đã cho này không được tính vào phần di sản của bố bạn để chia thừa kế.

Đối với phần đất lớn, căn cứ theoquy định tại Điều 33, 34Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung".
.

Theo đó, nếu bố bạn và người vợ thứhai cùng xác lập quyền sở hữu đối với phần đất lớn thìđây được coi là tài sản chung của vợ chồng và khi bố bạn mất về nguyên tắc thì di sản của bố bạn để lại sẽ là 1/2 trong khốitài sản chung vợ chồng. Nếu bố bạn và người vợ hai không xác lập quyền đồng sở hữu với mảnh đất mà mảnh đất lớn chỉ đứng tên bố bạn thì di sản chia thừa kế lúc này sẽ là toàn bộ diện tích mảnh đất lớn.

Thứ hai, về việc chia di sản thừa kế:

Theo các quy định của về thừa kế, chúng tôi chia trường hợp như sau:

- Với trường hợp bố bạn mất đi và có để lại di chúc, Điều 648, 684 Bộ Luật dân sự 2005 quy định:

- Điều 648: "Người lập di chúc có các quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản".


- Điều684: "1. Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu huỷ do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

3. Trong trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản".

Như vậy nếu bố bạn để lại di chúc thì việc phân chia di sản phụ thuộc hoàn toàn vào di chúc bố bạn để lại, vàngười được chỉ định trong di chúc sẽ được hưởng di sảnthừa kế.

- Trường hợp bố bạn mất vàkhông để lại di chúc:

Di sản thừa kếsẽ đượcphân chiatheo pháp luật:Căn cứ vào Điều 676 Bộ Luật dân sự 2005 thì những người cùng hàng thừa kế thứ nhất bao gồm 7 anh chị em nhà bạn, người vợ thứ hai và cô con gái chung của người vợ hai với bố bạn, mỗi ngườisẽ được hưởng 1/9 trong tổng số 1/2 khối tài sản chung của bố bạn với người vợ hai.
Nếu mảnh đất lớn chỉ đứng tên bố bạn thì mỗi người trong hàng thừa kế thứ nhất được hưởng 1/9 giá trị mảnh đất lớn mà bố bạn để lại.

Khuyến nghị:

  1. Để có tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198.
  2. Nội dung tư vấn pháp luật thừa kế mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.