Tư vấn pháp luật về việc hủy hợp đồng mua bán, có đặt cọc có bị phạt cọc không?

Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết...

Hỏi: Cách đây vài tháng công ty tôi có đặt mua một xe somi romooc tại công ty X (nhà phân phối) trị giá khoảng 700 triệu đồng, tôi đã kí hợp đồngđặt cọc 100 triệu đồng. Hiện nay, sau 4 tháng tôi không có đủ tài chính và quyết định không mua xe nữa, do đó tôi có liên lạc qua điện thoại với nơi bán để đặt vấn đề hủy hợp đồng. Nơi bán (công ty X) không đồng ý và trả lời rằng nếu tôi đơn phương hủy hợp đồng thì tôi sẽ mất hết tiền cọc 100 triệu đồng. Như vậy công ty X nói có đúng không? hoặc tôi chỉ mất 8% giá trị ghi trong hợp đồng, và tôi có thể mất thêm tiền bồi thường gì khác nữa không? (Nguyễn Hùng - Hà Nội)


>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Đại Hải - Tổ tư vấn pháp luật tố tụng của Công ty Luật TNHH Everest - Trả lời:

Qua những gì bạn trình bày thì hợp đồng mua bán giữa công tybạn với công ty X là quan hệ mua bán hàng hóa đều vì mục đích sinh lời nên quan hệ nàythuộc đối tượng điều chỉnh của Luật thương mại 2005, tuy nhiên điều khoản đặt cọc ( có thể là hợp đồng đặt cọc) lại thuộc đối tượng điều chỉnh của Bộ luật dân sự 2005 dù chức năng của điều khoản đặt cọc ( có thể là hợp đồng đặt cọc) làm để nhằm đảm bảo các bên thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.

Hiện tại, thì bạn muốn hủy hợp đồng mua bán hàng hóa với Công ty X nên theo quy định tại khoản 2, điều 358 Bộ luật dân sự

"Điều 358.Đặt cọc:2. Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác".

Từ quy định trên cũng với những gì bạn đã trình bày, thì khi bạn hủy hợp đồng mua bán với Công ty X thì số tiền bạn đã đặt cọc 100 triệu đồng sẽ thuộc về công ty X. Vậy công ty X nói với bạn như vậy là đúng với quy định của pháp luật.

Còn trường hợp bạn nêu" chỉ mất8% giá trị ghi trong hợp đồng" là trường hợp phạt vi phạm được quy định tại điều 301 Luật thương mại 2005

"Điều 301.Mức phạt vi phạm:Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này".

Việc áp dụng phạt vi phạm khi các bên có thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa còn nếu không có thỏa thuận về điều khoản phạt vi phạm thì sẽ không được áp dụng. Mặc dù đặt cọc với phạt vi phạm đều mang tính chất nhằm bảo đảm các bên thực hiện hợp đồng, tuy nhiên hai biện pháp này hoàn toàn độc lập với nhau. Đối với một hợp đồng chính có thể có cùng lúc có cả biện pháp đặt cọc và điều khoản phạt vi phạm. Và khi các bên không thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận thì sẽ áp dụng đồng thời cả hai biện pháp.

Như vậy, đối với trường hợp của bạn sẽ không áp dụng " mức phạt vi phạm là 8%" theo quy định tại điều 301 Luật thương mại, nếu trong hợp đồng giữa công ty bạn với công ty X có điều khoản phạt vi phạm thì bạn sẽ vẫn phải thực hiện phạt vi phạm và phạt cọc.

Trong trường hợp công ty bạn hủy bỏ hợp đồng với công ty X và gây thiệt hại cho công ty X và họchứng minh được việc hủy hợp đồng gây thiệt hại cho công ty họ thì bạn sẽ phải bồi thường thiệt hại đối với tổn thất đó theo quy định tại khoản 1, điều 302 Luật thương mại

"Điều 302.Bồi thường thiệt hại:1. Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm".

Vậy trường hợp bạn hủy bỏ hợp đồng với công ty X thì rất có thể bạn sẽ phải bồi thường thiệt hại cho họ

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: info@luatviet.net.vn.
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật tố tụng mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.