Tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự, những điểm cần lưu ý?

Việc cho vay với lãi suất cao so với quy định của pháp luật diễn ra khá thường xuyên, phổ biến bởi lợi ích của cả bên cho vay và bên đi vay. Tuy nhiên, để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.

Quy định pháp luật về tội cho vay nặng lãi:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015: “Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, mức lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay.

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật đất đai - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Như vậy, người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất 100%/năm trở lên và có thu lợi bất chính từ việc cho vay với lãi suất cao này từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm ành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này mà chưa được xóa án tích thì có thể bị áp dụng một trong hình thức phạt sau đây: (i) phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, (ii) phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Ngoài ra, phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Những điểm cần lưu ý đối với tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự.

Thứ nhất, về khoản thu lợi bất chính quy định tại Khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015: khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là số tiền lãi thu được sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (20%/năm). Ngoài ra, khoản tiền thu lợi bất chính được xác định là tổng số tiền lãi mà người phạm tội thu được của tất cả những người vay, nếu hành vi cho vay lãi nặng được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian.

Trường hợp một người thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng, mà tổng số tiền thu lợi bất chính của các lần phạm tội từ 100 triệu đồng trở lên, nếu các lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với trị giá tài sản chiếm đoạt, họ còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Thứ hai, về tiền lãi từ hoạt động cho vay nặng lãi: Theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015: “Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”. Do đó, khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm là khoản tiền mà người phạm tội thu lợi bất chính của người vay nên được trả lại cho người vay tiền, trừ trường hợp người vay sử dụng tiền vay vào mục đích bất hợp pháp (như đánh bạc, mua bán trái phép chất ma túy…) thì khoản tiền thu lợi bất chính bị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Thứ ba, xử lý đối với tiền người phạm tội dùng để cho vay và tiền lãi: Đối với khoản tiền cho vay (tiền gốc) được xác định là phương tiện phạm tội, nên bị tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm tuy không bị tính khi xác định trách nhiệm hình sự, nhưng đây cũng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm, đồng thời hoạt động cho vay lãi nặng thường gắn với các băng nhóm tội phạm. Do đó, để bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm thì Tòa án phải tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước khoản tiền này.

Thứ tư, tư cách tham gia tố tụng của người vay tiền: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 65 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự”. Do đó, người vay tiền trong vụ án cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.