Tiền án, tiền sự, án tích, hiểu thế nào cho đúng?

Tiền án là gì? Tiền sự là gì? Án tích là gì? Người đã từng có tiền án, tiền sự có thể được xóa tiền án, tiền sự khi chấp hành xong hình phạt hay không?

"Tiền án" và "tiền sự" là thuật ngữ Hán - Việt. "Tiền" nghĩa là cái có trước, đã có; "án" ở đây được hiểu là bản án, vậy "tiền án" là bản án đã có trước, bản án trước đó của Tòa án. Tương tự như vậy, "sự" trong "tiền sự" nhằm chỉ sự kiện pháp lý, mà ở đây cụ thể là hậu quả pháp lý hành chính.

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật hình sự - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Khái niệm tiền án, tiền sự, án tích

Cho tới thời điểm hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào quy định trực tiếp khái niệm về "tiền án", "tiền sự". Tại Nghị quyết số 01/HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 18/10/1990, hướng dẫn về việc áp dụng Điều 44 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS 1999) lại có quy định gián tiếp về tiền án, tiền sự như sau:

"Người đã được xóa án thì không coi là có tiền án. Người đã được xóa kỷ luật, xóa việc xử phạt vi phạm hành chính (tức là đã được coi như chưa bị kỷ luật, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính) thì không coi là có tiền sự. Đối với các quyết định xử lý của cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội mà pháp luật chưa quy định thời hạn để được coi như chưa bị xử lý, nếu tính từ ngày ra quyết định xử lý đến ngày phạm tội đã quá 01 năm, thì không coi là có tiền sự nữa. Đối với các quyết định xử lý của cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội mà pháp luật chưa quy định thời hạn để được coi như chưa bị xử lý, nếu tính từ ngày ra quyết định xử lý đến ngày phạm tội đã quá 01 năm, thì không coi là tiền sự nữa".

Căn cứ vào quy định trên, có thể hiểu, người có tiền án (án tích) là người đã bị kết án (hình sự) và thi hành hình phạt mà chưa được xóa án. Sau khi thi hành bản án hình sự một thời gian nhất định thì người bị kết án được mặc nhiên xoá án tích hoặc được toà án cấp chứng nhận xoá án tích. Quyết định xóa án tích tùy từng trường hợp.

Người có tiền sự là người đã bị kỷ luật hành chính, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm nhưng chưa đến mức xử lý hình sự, mà chưa được xóa kỷ luật, chưa được xóa việc xử phạt hành chính.

Tuy nhiên, thực tế, hiện trong luật còn có quy định khác nhau về cách hiểu "chưa có tiền án" khác với người được "xóa án tích", chưa có tiền sự khác với "chưa được xóa việc xử phạt hành chính".

Ví dụ thứ nhất quy định về Phiếu lý lịch tư pháp: (i) Phiếu lý lịch tư pháp số 1 là Phiếu ghi các án tích chưa được xóa và không ghi các án tích đã được xóa. Thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã chỉ được ghi vào Phiếu lý lịch tư pháp số 1 khi cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu. (ii) Phiếu lý lịch tư pháp số 2 là Phiếu ghi đầy đủ các án tích, cả án tích chưa được xóa lẫn án tích đã được xóa; thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.

Ví dụ thứ hai về quy định của Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 hướng dẫn áp dụng Điều 60 Bộ luật Hình sự về án treo quy định về việc xem xét cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo: "(b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, công tác; không vi phạm các điều mà pháp luật cấm; chưa bao giờ bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính, bị xử lý kỷ luật. Trường hợp người phạm tội có án tích nhưng đã được xóa án tích, được đương nhiên xóa án tích thì coi là chưa bị kết án; đã bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật thì được coi là chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, nhưng không phải là có nhân thân tốt" (điểm b khoản 2 Điều 2).

Như vậy, việc được "xóa án tích" thì chỉ coi là "chưa bị kết án", nhưng vẫn bị xác định là có "tiền án". Việc đã bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật thì được coi là chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật nhưng vẫn sẽ bị xác định đã có "tiền sự".

Thứ nhất, các quy định về thời hạn bị coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Việc một cá nhân/tổ chức bị kỷ luật hành chính, bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật sau khi đã chấp hành hình phạt một thời gian nhất định thì bị coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Thời hạn bị coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính được quy định trong pháp luật hiện hành (
Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012), như sau :

"1- Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

2- Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính" (Điều 7).

Theo quy định trên, thì 06 tháng sau khi chấp hành xong quyết định xử phạt đối với hình thức xử phạt cảnh cáo, 01 năm kể từ thời điểm chấp hành xong quyết định xử phạt đối với hình thức xử phạt hành chính, và 02 năm đối với cá nhân bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, mà đương sự không tái phạm thì được coi như c
hưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

"Biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc" (Điều 2).

Khi được được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính thì đương sự sẽ không bị coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính, vì vậy không bị tính là tình tiết tăng nặng khi vi phạm hành chính lần tiếp theo.

Thứ hai, quy định về xóa án tích.

Kế thừa nội dung trong các quy định pháp luật hình sự trước đây, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (có hiệu lực vào ngày 01/01/2018, gọi tắt là BLHS 2015) có quy định về việc xóa án tích đối với những người từng phạm tội như sau:

"Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích. Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án" (khoản 1 Điều 69).

Đây là một trong những nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự, xuất phát từ sự tôn trọng nhân quyền, tôn trọng sự công bằng, quy định về xóa án tích không những tạo điều kiện để những đối tượng đã phạm tội được tái hòa nhập với cộng đồng sau khi đã chấp hành hình phạt, mà còn tạo động lực để các đối tượng đã từng có tiền án chủ động chấp hành nghiêm túc hơn các quy định pháp luật, tránh tái phạm.

Quy định về xóa án tích trong BLHS 1999 cũng tương tự như trong BLHS 2015, các trường hợp được xóa án tích được coi như chưa có tiền án, được Tòa án cấp Giấy chứng nhận hoặc ra Quyết định xóa án tích gồm: (1) Mặc nhiên được xóa án tích; (2) Xóa án tích theo Quyết định của Tòa án; (3) Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt.

Cụ thể BLHS 1999 quy định:

- Đương nhiên được xoá án tích:

"Những người sau đây đương nhiên được xoá án tích: 1- Người được miễn hình phạt. 2- Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau đây: (a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo; (b) Ba năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm; (c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm; (d) Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên mười lăm năm" (Điều 64).

- Xóa án tích theo quyết định của Tòa án:

1- Toà án quyết định việc xoá án tích đối với những người đã bị kết án về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, căn cứ vào tính chất của tội phạm đã được thực hiện, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của người bị kết án trong các trường hợp sau đây: (a) Đã bị phạt tù đến ba năm mà không phạm tội mới trong thời hạn ba năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án; (b) Đã bị phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn bảy năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án; (c) Đã bị phạt tù trên mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn mười năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án. 2- Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu phải chờ một năm sau mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi thì phải sau hai năm mới được xin xóa án tích" (Điều 65).

- Xoá án tích trong trường hợp đặc biệt:

Trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú đề nghị, thì có thể được Toà án xoá án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định." (Điều 66).

Theo BLHS 1999, Giấy chứng nhận đã xóa án tích dành cho các trường hợp đương nhiên được xóa án tích và được cấp cho đương sự nếu có yêu cầu. Đối với trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì Quyết định xóa án án tích được Tòa án cấp sơ thẩm của vụ án ban hành dựa trên trình tự, thủ tục sau khi xem xét các điều kiện cần thiết theo luật định.

Kế thừa những nội dung của BLHS 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS 2015) quy định về việc xóa án tích như sau:

- Đương nhiên được xóa án tích:

"1- Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

2- Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây: (a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; (b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; (c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; (d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

3- Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.
4- Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này"
(Điều 70).

- Xóa án tích theo quyết định của Tòa án:

"1- Xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với những người đã bị kết án về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này, căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án.

2- Người bị kết án được Tòa án quyết định xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây: (a) 03 năm trong trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 05 năm; (b) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; (c) 07 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a khoản này thì thời hạn được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

3- Người bị kết án được Tòa án quyết định xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.

4- Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm mới được xin xóa án tích" (Điều 71).

- Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt:

"Trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này." (Điều 72).

Có thể thấy, thời hạn xóa án tích trong BLHS 2015 đối với các trường hợp đương nhiên bị xóa án tích đã giảm xuống, rất có lợi cho các đối tượng từng có tiền án.

Đối tượng đương nhiên được xóa án tích là những đối tượng phạm tội mà không phải tội phạm về an ninh quốc gia, phá hoại hòa bình, chống lại loài người, tội phạm chiến tranh (Chương XIII và Chương XXVI Bộ luật Hình sự 2015) sau khi đã chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, và đáp ứng một số điều kiện nhất định thì sẽ đương nhiên được xóa án tích. Những đối tượng này có thể yêu cầu cơ quan cập nhật dữ liệu lý lịch tư pháp để được cấp Giấy chứng nhận xóa án tích. Đây là một điểm chuyển giao giữa BLHS 1999 và BLHS 2015 khi thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận xóa án tích không thuộc về Tòa án nữa.

Đối với các tội phạm về an ninh quốc gia, phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh, cũng có thể được xóa án tích trong trường hợp chấp hành đầy đủ các hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các điều kiện nhất định trong luật hình sự. Những trường hợp này khi đã có đầy đủ các điều kiện để được xóa án tích, đủ thời hạn theo luật định thì có thể yêu cầu Tòa án ra Quyết định xóa án tích nhằm tạo điều kiện để tái hòa nhập cộng đồng, chủ động, tích cực hoạt động tuân thủ hiến pháp và pháp luật.

Luật gia Nguyễn Liên - Phòng Tư vấn pháp luật trực tuyến của Công ty Luật TNHH Everest, tổng hợp.

Khuyến nghị:

  1. Để có tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198.
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.