Quy định của pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Bộ luật lao động năm 2012 quy định rất cụ thể và chi tiết về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động ở điều 38. Theo đó,người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong 5 trường hợp cụ thể theo luật định.

Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng đãký và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất hai thángtiền lương và phụ cấp lương.

Luật sư tư vấn pháp luật lao động - Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài (24/7): 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật lao động - Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài (24/7): 1900 6198

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

- Đối với hợp đồng không xác định thời hạn, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần có lý do luật định nhưng phải báo trước ít nhất là 45 ngày, người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị sáu tháng liền thìphải báo trước ít nhất 3 ngày.

- Đối với hợp đồng xác định thời hạn, người lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu:

  • Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được đảm bảo các điều kiện làm việc như thoả thuận trong hợp đồng.
  • Không được trả công đầy đủ hoặc trả công không đúng thời hạn theo hợp đồng.
  • Bị ngược đãi, bị cưỡng bức lao động.
  • Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng.
  • Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở các cơ quan dân cử hoặc được bổnhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước.
  • Người lao động nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của thầy thuốc. (thời
  • hạn báo trước theo sự chỉ định của thầy thuốc)
  • Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 3 tháng liền (đối với hợp đồngcó thời hạn từ 12 đến 36 tháng), ¼ thời hạn hợp đồng (đối với hợp đồng có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa thể hồi phục.

Người sử dụng lao động cũng được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

  • Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng.
  • Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải.
  • Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm đau
  • đã điều trị 12 tháng liền, người lao động làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn từ12 tháng đến 36 tháng ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao đồng mà khảnăng lao động chưa hồi phục.
  • Do thiên tai, hoả hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi cách khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗlàm việc.
  • Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động.

Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp người lao động bịxử lý kỷ luật sa thải, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước.

Các trường hợp không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Để bảo vệ quyền lợi cho người lao động, theo quy định tại Điều 39 Bộ luật laođộng thì trong những trường hợp sau người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:

  • Phụ nữ đang có thai (trừ trường hợp trộm cắp, tham ô, vi phạm gây hậu quảnghiêm trọng, cơ quan xí nghiệp bị giải thể hoặc thanh lý tài sản...)
  • Phụ nữ đang nghỉ sinh, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.
  • Người lao động bị ốm đau, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị,
  • điều dưỡng theo quyết định của thầy thuốc.
  • Người lao động đang nghỉ chế độ hàng năm, nghỉ việc riêng được người sửdụng lao động đồng ý.

Quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật:

- Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng đãký và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương (nếucó) trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất hai thángtiền lương và phụ cấp lương (nếu có).

- Trong trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền được bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này, người lao động còn đượctrợ cấp theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật lao động, cụ thể:

  • Khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ một năm trở lên, người sử dụng laođộng có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộngvới phụ cấp lương, nếu có.
  • Khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 85 của Bộ luật lao động, người lao động không được trợ cấp thôi việc.

- Trong trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận người lao độngtrở lại làm việc và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền bồi thường theo quy định trên và trợ cấp thôi việc, hai bên thỏa thuận về khoản tiền bồi thường thêm chongười lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

- Trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụnglao động nửa tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).

- Trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải bồi thường chi phí đào tạo (nếu có) theo quy định của Chính phủ.

- Trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước, bên vi phạm phải bồi thường cho bên kia một khoản tiềntương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Bài viết được thực hiện bởi: Luật gia Nguyễn Thu Trang - Công ty Luật TNHH Everest

Xem thêm:

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật:1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.