Người quản lý công ty gồm những ai?

Người quản lý công ty gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc..., cá nhân khác quy định tại Điều lệ, Quy chế nội bộ của công ty.

<?> Chúng tôi vừa thành lập công ty cổ phần, đang trong quá trình xây dựng quy chế nội bộ của công ty. Chúng tôi có tham khảo Luật Doanh nghiệp thì thấy có quy định về người quản lý công ty, nhưng không rõ ý nghĩa của quy định này, ví dụ như vị trí trưởng phòng, phó phòng có được xác định là người quản lý công ty hay không, vì sao lại có quy định này. Đề nghịluật sư tư vấn về quy định "người quản lý công ty" tại Luật Doanh nghiệp (Hòa Lan - Hà Nội)

Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198


Liên quan tới câu hỏi của anh (chị), chúng tôi xin có một số ý kiến tư vấn sơ bộ như sau:

Thứ nhất, về quy định người quản lý công ty trong pháp luật doanh nghiệp.

Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định như sau: “Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty” (khoản 18 Điều 4).

Như vậy, pháp luật doanh nghiệp quy định cụ thể người quản lý công ty cho các loại hình doanh nghiệp như:chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.

Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng quy định cụ thể về những người quản lý khác (ví dụ vị trí như trưởng phòng, phó trưởng phòng, giám đốc chi nhánh...) cũng như quyền và nghĩa vụ của những người này tại Điều lệ của công ty.

Thứ hai, vì sao pháp luật doanh nghiệp có quy định về người quản lý công ty.

Theo chúng tôi, chế định này xuất phát từ một số vấn đề quan trọng trong quản trị, điều hành doanh nghiệp, như: (i) Nghĩa vụ trung thành của người có vai trò quan trọng trong công ty; (ii) Giao dịch có nguy cơ tư lợi giữa người quản lý công ty với công ty; (iii) Sử dụng tài sản, thông tin mật và cơ hội của công ty; (iv) Nghĩa vụ không sử dụng cơ hội của công ty; (v) Cạnh tranh với công ty.

- Nội dung nghĩa vụ trung thành:

Nghĩa vụ trung thành là một nhóm các nghĩa vụ đề cập đến thái độ ứng xử của người quản lý công ty trong trường hợp có xung đột lợi ích với công ty. Yêu cầu cốt lõi của nghĩa vụ trung thành là người quản lý công ty phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của công ty khi có xung đột lợi ích. Lợi ích tốt nhất của công ty cần được hiểu là lợi ích hợp pháp tối đa của công ty. Ngày nay, hoạt động kinh doanh của công ty có ảnh hưởng đến nhiều nhóm lợi ích trong xã hội như người lao động, chủ nợ, người tiêu dùng, nhà cung cấp, cơ quan nhà nước, cộng đồng dân cư, môi trường… Thực tế đã chứng minh, nhiều doanh nghiệp vì chạy theo lợi nhuận tối đa trước mắt nên đã khai thác môi trường đến kiệt quệ, tránh thuế, trốn thuế, lừa đảo, vi phạm pháp luật… gây ra những thiệt hại lớn mà cộng đồng phải gánh chịu. Vì vậy, người quản lý công ty không chỉ quan tâm đến lợi ích của công ty và cổ đông/thành viên mà còn phải cân bằng lợi ích của công ty với lợi ích của các nhóm lợi ích khác. Điều đó có nghĩa là người quản lý công ty không thể vì lợi ích tối đa của công ty mà xâm phạm đến lợi ích của các chủ thể khác.

Về mặt truyền thống, xung đột lợi ích được thể hiện ở ba vấn đề chính là: giao dịch có nguy cơ tư lợi; lạm dụng tài sản hoặc cơ hội của công ty phục vụ lợi ích riêng; và cạnh tranh với công ty. Tuy nhiên, ngoài các vấn đề trên, xung đột lợi ích giữa công ty với người quản lý công ty còn được thể hiện ở các vấn đề khác như chính sách lương thưởng của người quản lý công ty. Trong bất kỳ trường hợp xung đột lợi ích nào, nghĩa vụ trung thành đòi hỏi người quản lý công ty phải ưu tiên lợi ích của công ty trước theo nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của công ty.

- Giao dịch có nguy cơ tư lợi giữa người quản lý công ty với công ty:

Tư lợi là lợi ích riêng của cá nhân, đối lập với lợi ích chung. Giao dịch có nguy cơ tư lợi là một hình thức xung đột lợi ích phổ biến và được pháp luật các nước quy định và kiểm soát chặt chẽ. Ở Việt Nam, Điều 35 Điều lệ mẫu áp dụng cho công ty đại chúng ban hành theo Thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày 26/7/2012 của Bộ Tài chính quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng có đề cập đến các giao dịch sau là Giao dịch có nguy cơ tư lợi: các khoản vay hoặc bảo lãnh mà công ty cấp cho người quản lý công ty; hợp đồng hoặc giao dịch giữa công ty với người quản lý công ty hoặc những người liên quan của những người này; hợp đồng hoặc giao dịch giữa công ty với tổ chức mà người quản lý công ty hoặc người liên quan của người này là thành viên hoặc có liên quan lợi ích tài chính. Có thể thấy giao dịch có nguy cơ tư lợi có những đặc điểm sau:

Một là, giao dịch mà công ty là một bên chủ thể trong đó người quản lý công ty có lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp. Lợi ích trực tiếp của người quản lý công ty có thể được hiểu là trường hợp mà người quản lý công ty trực tiếp giao dịch với công ty như trực tiếp vay tiền của công ty, trực tiếp bán hàng cho công ty. Lợi ích trực tiếp cũng được hiểu là trường hợp người quản lý công ty có lợi ích phát sinh trực tiếp từ giao dịch đó, như được hưởng hoa hồng, được chia lợi nhuận, được hưởng các đặc quyền, đặc lợi trực tiếp từ giao dịch do một bên có giao dịch với công ty chi trả... Về mặt truyền thống, lợi ích ở đây được hiểu là lợi ích vật chất. Tuy nhiên, trên thực tế, lợi ích phi vật chất cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến các quyết định của người quản lý công ty. Do đó, lợi ích của người quản lý công ty cần được hiểu không chỉ là lợi ích vật chất mà còn bao hàm các lợi ích cá nhân khác. Đó là những “những điều có ích, có lợi cho một đối tượng nào đó trong mối quan hệ với đối tượng ấy (nói một cách khái quát)”. Một mối quan hệ tình cảm đạt được không theo một quy luật tự nhiên mà hình thành từ sự trao đổi với một lợi ích vật chất, một lợi thế phi vật chất mà chính bản thân người quản lý công ty mong muốn đạt được hoặc muốn giành được cho người có liên quan… là những ví dụ điển hình cho những lợi ích phi vật chất.

Lợi ích gián tiếp được hiểu là trường hợp mà công ty xác lập giao dịch với người liên quan của người quản lý công ty. Có hai phương pháp định nghĩa “người có liên quan”. Phương pháp thứ nhất gọi là phương pháp liệt kê, những người được coi là người có liên quan của người quản lý công ty sẽ được liệt kê ra và như vậy, những người không được liệt kê không được coi là người có liên quan của người quản lý công ty. Điểm hạn chế của phương pháp liệt kê là có thể sẽ bỏ lọt những người mà rõ ràng “có liên quan” với người quản lý công ty. Phương pháp thứ hai gọi là phương pháp trừu tượng hóa, theo đó đặc điểm của người có liên quan của người quản lý công ty sẽ được đưa ra. Như vậy, người có liên quan của người quản lý công ty sẽ được nhận diện thông qua các đặc điểm này.

Người có liên quan của người quản lý công ty là những người có mối quan hệ gắn bó với người quản lý công ty về mặt kinh tế, hôn nhân, gia đình, huyết thống hoặc khía cạnh khác mà người quản lý công ty với tư cách là một cá nhân bình thường sẽ có xu hướng ưu tiên, hỗ trợ, giúp đỡ hoặc tạo lợi thế cho những người này.

Vì vậy, giao dịch giữa công ty với người có liên quan của người quản lý công ty cũng được coi là giao dịch có nguy cơ tư lợi. Dựa trên các tiêu chí đã phân tích ở trên, có thể liệt kê một danh sách những người có liên quan của người quản lý công ty bao gồm: (i). Doanh nghiệp mà người quản lý công ty là cổ đông, người góp vốn, thành viên hoặc là người quản lý của doanh nghiệp đó; (ii). Tổ chức khác mà người quản lý công ty là thành viên sáng lập, người góp vốn hoặc là người quản lý; (iii). Doanh nghiệp hoặc tổ chức có quan hệ khác với người quản lý công ty mà trong hoàn cảnh cụ thể có đủ chứng cứ chứng minh rằng người quản lý công ty sẽ tạo lợi thế cho doanh nghiệp hoặc tổ chức này khi tham gia giao dịch với công ty; (iv). Cá nhân là cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người quản lý công ty; (v). Cá nhân khác có mối quan hệ với người quản lý công ty mà trong hoàn cảnh cụ thể có đủ chứng cứ để chứng minh rằng người quản lý công ty sẽ tạo lợi thế cho cá nhân này khi tham gia giao dịch với công ty.

Hai là, giao dịch có nguy cơ tư lợi có nguy cơ chuyển dịch lợi ích từ công ty sang chủ thể khác. Thực ra, không phải giao dịch có nguy cơ tư lợi nào cũng làm cho lợi ích bị chuyển dịch từ công ty sang chủ thể khác. Rất nhiều giao dịch có nguy cơ tư lợi nhưng công bằng và bảo đảm lợi ích cho cả hai bên. Chỉ những giao dịch có nguy cơ tư lợi không công bằng với công ty mới được coi là giao dịch làm cho lợi ích được chuyển dịch từ công ty sang chủ thể khác. Vì vậy, giao dịch có nguy cơ tư lợi không nhất thiết phải gây thiệt hại cho công ty, cổ đông công ty hoặc chủ nợ của công ty mà giao dịch có nguy cơ tư lợi chỉ cần dấu hiệu có nguy cơ chuyển dịch lợi ích từ công ty sang chủ thể khác.

Giao dịch có nguy cơ tư lợi không chỉ có nguy cơ gây thiệt hại cho công ty mà còn cho cả những người có lợi ích liên quan khác như chủ nợ, người lao động, cộng đồng... Nếu các giao dịch có nguy cơ tư lợi trở nên phổ biến thì sẽ gây ra những tác động không nhỏ cho môi trường kinh doanh và nền kinh tế. Vì vậy, cần thiết phải kiểm soát giao dịch có nguy cơ tư lợi.

Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã thiết lập cơ chế chấp thuận giao dịch có nguy cơ tư lợi. Mặc dù có nhiều điểm tiến bộ, nhưng đáng tiếc là pháp luật thực định của Việt Nam vẫn còn một số điểm hạn chế:

Một là, pháp luật hiện hành mới chỉ đề cập đến giao dịch có nguy cơ tư lợi của thành viên hội đồng quản trị (HĐQT), giám đốc/tổng giám đốc và người liên quan của những người này mà chưa đề cập đến giao dịch có nguy cơ tư lợi của những người quản lý khác. Trong thực tiễn, có một số chức danh quản lý có những ảnh hưởng nhất định và họ cũng lạm dụng quyền lực của mình để có được giao dịch có nguy cơ tư lợi. Kế toán trưởng, giám đốc tài chính là những người có thẩm quyền quản lý và giám sát hoạt động tài chính của công ty nên những người này rất dễ dàng trong việc thiết lập các giao dịch có nguy cơ tư lợi, như nhận hoa hồng của công ty khác để công ty này xác lập giao dịch với công ty, chuyển các hợp đồng, giao dịch có nhiều lợi ích (trong đó có phần của người quản lý) cho người liên quan của họ. Giám đốc chi nhánh, giám đốc dự án cũng có thể xác lập giao dịch có nguy cơ tư lợi, vì đây là những người thường được ủy quyền để nhân danh công ty xác lập các hợp đồng, giao dịch. Như vậy, việc bỏ lọt những vị trí quản lý này sẽ dẫn đến tình trạng các giao dịch có nguy cơ tư lợi nhỏ đến vừa trở nên phổ biến trong nhiều công ty và chúng sẽ tích tụ lại, gây thiệt hại nghiêm trọng cho công ty.

Hai là
, khái niệm “người có liên quan” được quy định tại khoản 17 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 và khái niệm “người liên quan” được quy định tại khoản 34 Điều 6 Luật Chứng khoán năm 2006 vẫn theo phương pháp liệt kê. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, sẽ dẫn đến bỏ lọt giao dịch giữa công ty với người có mối quan hệ với người quản lý công ty mà có đủ chứng cứ để chứng minh người quản lý công ty sẽ tạo lợi thế cho người này trong giao dịch với công ty. Có thể trên thực tế, người quản lý công ty không tạo lợi thế cho người này, nhưng rõ ràng về bản chất, giao dịch vẫn có nguy cơ tư lợi và cần được kiểm soát theo những thủ tục luật định. Thứ ba, Luật Doanh nghiệp hiện hành lấy tiêu chí giá trị của giao dịch có nguy cơ tư lợi để phân định thẩm quyền giữa HĐQT và Đại hội đồng cổ đông. Như vậy, pháp luật hiện hành chưa tính đến tình huống tất cả hoặc đa số các thành viên HĐQT đều có lợi ích liên quan đến một giao dịch hoặc tất cả hoặc đa số các thành viên HĐQT mặc dù không có lợi ích liên quan đến một giao dịch nhưng có chứng cứ để khẳng định rằng, họ có những mối liên quan nhất định với người có lợi ích liên quan và có nguy cơ dẫn đến sự thỏa hiệp trong việc đưa ra quyết định chấp thuận giao dịch.

- Sử dụng tài sản của công ty cho mục đích cá nhân:

Trong thực tế không thể tránh khỏi việc người quản lý công ty lợi dụng vị trí của mình để sử dụng tài sản của công ty phục vụ cho mục đích riêng. Hành vi này ảnh hưởng đến việc sử dụng tài sản, giá trị tài sản, cũng như quyền sở hữu tài sản của công ty. Vì vậy, pháp luật cần có những cơ chế nhằm kiểm soát việc sử dụng tài sản của công ty. Điều 160.1(c) Luật Doanh nghiệp năm 2014 không cho phép người quản lý công ty lạm dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ cho lợi ích của cá nhân, tổ chức khác. Tài sản của công ty bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình, trong đó có cả bí mật kinh doanh. Tùy từng trường hợp, hành vi lạm dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ cho lợi ích của cá nhân, tổ chức khác nếu thuộc trường hợp chiếm đoạt tài sản của công ty có thể cấu thành tội tham ô theo Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015 hoặc một trong số các tội thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XVI Bộ luật hình sự năm 2015. Theo Điều 126.1 của Bộ luật Lao động năm 2012, người điều hành công ty có hành vi lạm dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ cho lợi ích của cá nhân, tổ chức khác có thể bị áp dụng hình thức kỷ luật sa thải. Ngoài ra, người vi phạm còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự. Về trách nhiệm dân sự, Điều 599, 600 và 601 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định người quản lý công ty lạm dụng tài sản của công ty phải hoàn trả tài sản của công ty và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ việc lạm dụng tài sản của công ty.

Các công ty có thể quy định cụ thể về nghĩa vụ không lạm dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ cho lợi ích của cá nhân, tổ chức khác trong Điều lệ công ty và/hoặc trong các hợp đồng giữa công ty với người quản lý công ty. Trên thực tế, nhiều công ty ở nhiều nước có quy định về nghĩa vụ bảo mật thông tin trong hợp đồng giữa công ty với người quản lý công ty. Và như vậy, nghĩa vụ bảo mật thông tin là nghĩa vụ hợp đồng. Người có hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo mật thông tin sẽ bị áp dụng các chế tài hợp đồng. Chế tài mà các công ty ưa chuộng là chế tài phi vật chất (ở các nước thuộc hệ thống thông luật gọi là chế tài công bình) như buộc chấm dứt hành vi vi phạm, buộc thực hiện các công việc nhất định hoặc hủy bỏ hợp đồng. Khoản 2 Điều 304 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Khi bên có nghĩa vụ không được thực hiện một công việc mà lại thực hiện công việc đó thì bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ phải chấm dứt việc thực hiện, khôi phục lại tình trạng ban đầu và bồi thường thiệt hại”.

- Nghĩa vụ không sử dụng cơ hội của công ty:

Người quản lý công ty cũng không được sử dụng cơ hội kinh doanh của công ty (cơ hội của công ty) vì lợi ích của riêng mình hoặc lợi ích của người khác.

Ví dụ: Trong vụ án tranh chấp đấu thầu, bị đơn nguyên là giám đốc và phó giám đốc thường trực của nguyên đơn (Công ty X). Nguyên đơn có một vụ đấu thầu cung cấp dịch vụ vẽ bản đồ địa chính. Bị đơn được cử sang địa phương này làm việc nhưng không thành công. Sau đó thì đàm phán lại được nối lại, khi hợp đồng giữa hai bên sắp được giao kết thì bị đơn xin nghỉ việc. Ngay trước khi được chấp nhận nghỉ việc, bị đơn đã thành lập Công ty Y có ngành nghề kinh doanh giống với ngành nghề của nguyên đơn (Công ty X) và được mời nộp hồ sơ thầu vẽ bản đồ địa chính. Hồ sơ thầu của Công ty Y với tổng giá trị hợp đồng là 2,3 triệu USD bằng với giá mà nguyên đơn đề nghị. Về vụ này, Tòa án nhận định: … nghĩa vụ của người thụ thác ít nhất gồm: thành viên Hội đồng quản trị hay người điều hành cao cấp như bị đơn không được tự ý lấy bất kỳ tài sản hoặc lợi thế kinh doanh của công ty dù những thứ này đang thuộc công ty hay công ty đang đàm phán để có được; nhất là khi thành viên Hội đồng quản trị hoặc người điều hành đang nhân danh công ty tham gia vào quá trình đàm phán.

Luật sư Nguyễn Thị Hoài Thương - Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198
Luật sư Nguyễn Thị Hoài Thương - Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198


Trong thực tiễn kinh doanh, vẫn có hiện tượng các công ty mong muốn mở rộng phạm vi kinh doanh. Vì vậy, họ sẵn sàng đầu tư nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất và các nguồn lực khác để tìm kiếm hoặc có được cơ hội mở rộng lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Vì lẽ đó, nếu người quản lý công ty sử dụng nguồn lực của công ty để tìm kiếm và có được cơ hội thì đó được coi là cơ hội của công ty. Ngoài ra, nhiệm vụ của người quản lý công ty là không ngừng mở rộng các mối quan hệ cho công ty, nhân danh công ty tìm kiếm những cơ hội để công ty không ngừng phát triển. Vì vậy, những cơ hội mà một cá nhân tìm kiếm được hoặc có được với tư cách là người quản lý công ty cũng được coi là cơ hội của công ty.

Công ty có khả năng nắm bắt được cơ hội. Tiêu chí thứ nhất được coi là điều kiện cần thì tiêu chí thứ hai là điều kiện đủ. Theo đó, công ty phải có đủ năng lực pháp luật và năng lực tài chính để nắm bắt và thực hiện cơ hội. Năng lực pháp luật được hiểu là công ty có quyền nắm bắt và thực hiện cơ hội. Năng lực tài chính đòi hỏi công ty phải có đủ khả năng tài chính để nắm bắt và thực hiện cơ hội. Do vậy, dù thuộc trường hợp công ty mong muốn hoặc cần có một cơ hội nhất định nhưng không đủ khả năng nắm bắt và thực hiện được nó thì cơ hội này không được coi là cơ hội của công ty. Ngoài ra, nếu công ty từ bỏ một cơ hội thì cơ hội này không còn là cơ hội của công ty nữa.

Pháp luật hiện hành của Việt Nam có quy định cấm người quản lý công ty sử dụng cơ hội kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, các văn bản này vẫn chưa làm rõ trường hợp nào được coi là cơ hội kinh doanh của công ty. Ngoài ra, các biện pháp chế tài được áp dụng trong trường hợp người quản lý công ty sử dụng cơ hội kinh doanh của công ty cũng chưa được các văn bản quy phạm pháp luật dự liệu.

- Cạnh tranh với công ty:

Cạnh tranh với công ty là tình trạng người quản lý công ty lại là chủ sở hữu, cổ đông, thành viên hoặc người quản lý của một chủ thể kinh doanh khác cạnh tranh với công ty. Cụ thể hơn, người quản lý công ty trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các quan hệ hợp tác với người khác, hoặc các tổ chức khác thực hiện các hoạt động kinh doanh thuộc lĩnh vực kinh doanh của công ty. Lĩnh vực kinh doanh trong trường hợp này là lĩnh vực kinh doanh trên thực tế của công ty chứ không phải là lĩnh vực kinh doanh được ghi trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Một vấn đề đặt ra là pháp luật có nên cấm người quản lý công ty cạnh tranh với công ty hay để ngỏ vấn đề này cho các công ty và người quản lý công ty tự thỏa thuận và pháp luật chỉ công nhận hiệu lực của các thỏa thuận này, đồng thời kèm theo các cơ chế khác nhằm kiểm soát tình trạng cạnh tranh với công ty. Trong thế giới hiện đại, một cá nhân có năng lực quản lý thường có nhiều mối quan hệ, trong đó có nhiều mối quan hệ kinh doanh. Vì vậy, việc pháp luật cấm người quản lý công ty cạnh tranh với công ty sẽ hạn chế sự tham gia kinh doanh của các doanh nhân giỏi. Hơn nữa, việc cấm đoán sẽ trở nên không khả thi khi người quản lý công ty tìm nhiều cách khác để lách luật. Vì vậy, chúng tôi ủng hộ phương án nên để các bên tự thỏa thuận và pháp luật công nhận hiệu lực của những thỏa thuận công bằng và hợp lý, đồng thời pháp luật cần có một cơ chế kiểm soát tình trạng cạnh tranh.

Bài viết được thực hiện bởi: Luật sư Nguyễn Thị Hoài Thương - Công ty Luật TNHH Everest


Xem thêm:


Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.