Hoạt động xúc tiến thương mại, một số hình thức thực hiện cụ thể

Thương nhân có quyền thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại như quảng cáo, khuyến mại, hội chợ, triển lãm; trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và các hoạt động khuyếc trương khác.

Hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hôi mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ nhằm mở rộng thị trường là điều không thể thiếu đối với hầu hết mọi loại hình doanh nghiệp trong thời buổi cạnh tranh hiện nay.
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Xúc tiến thương mại được thể hiện ở những hoạt động như khuyến mại; quảng cáo thương mại; trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ; hội chợ, triển lãm thương mại. Sau đây là một vài phân tích cụ thể để phân biệt và làm rõ về các hoạt động xúc tiến thương mại này.

Thứ nhất, thực hiện bằng hoạt động khuyến mại.

Điều 88, Luật Thương mại năm 2006 quy định về khuyến mại như sau:
"1. Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định."

Khuyến mại là mục tiêu được nhà kinh doanh nhắm tới là tiêu dùng, khuyến khích những người có khả năng mua sản phẩm. Hình thức khuyến mại phổ biến là giảm giá trực tiếp, kèm tặng phẩm, hàng cũ đổi hàng mới, rút thăm trúng thưởng... Người hưởng lợi trực tiếp trong hoạt động khuyến mại chính là người tiêu dùng. Đại lý bán được hàng nhiều nhưng không giải quyết được hàng tồn kho sẵn có của mình.
Trong hoạt động khuyến mại có một số hành vi bị cấm theo quy định tại Điều 100, Luật Thương mại năm 2005, ví dụ như khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; khuyến mại hoặc sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi....

Ngoài ra, thương nhân Việt Nam, chi nhánh của thương nhân Việt Nam, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có quyền tự do tổ chức khuyến mại hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại cho mình. Tuy nhiên cần lưu ý rằng văn phòng đại diện của thương nhân không được khuyến mại hay thuê thương nhân khác thực hiện việc khuyến mại tại Việt Nam cho thương nhân mà mình đại diện (điều này xuất phát từ tư cách pháp lý của văn phòng đại diện).

Thứ hai, hoạt động quảng cáo thương mại.

Điều 102, Luật Thương mại năm 2005 quy định về Quảng cáo thương mại như sau: "Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình".

Hoạt động quảng cáo của doanh nghiệp là những nỗ lực nhằm tác động đến hành vi, thói quen mua hàng của người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thông điệp bán hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán nhằm thu được lợi nhuận một cách hiệu quả nhất.Như vậy, có thể hiểu hoạt động của thương nhân sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; hoạt động quảng cáo cho thương nhân khác để thu phí dịch vụ là hoạt động quảng cáo thương mại.

Ngoài ra, thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài được phép hoạt động thương mại tại Việt Nam có quyền quảng cáo về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thực hiện việc quảng cáo thương mại cho mình. Văn phòng đại diện của thương nhân không được trực tiếp thực hiện hoạt động quảng cáo thương mại. Trong trường hợp được thương nhân ủy quyền, Văn phòng đại diện có quyền ký hợp đồng với thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại để thực hiện quảng cáo cho thương nhân mà mình đại diện. Thương nhân nước ngoài muốn quảng cáo thương mại về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình tại Việt Nam phải thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại Việt Nam thực hiện.

Thứ ba, hoạt động trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ.

Điều 117, Luật Thương mại năm 2005 quy định về trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ, cụ thể: "Trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân dùng hàng hoá, dịch vụ và tài liệu về hàng hoá, dịch vụ để giới thiệu với khách hàng về hàng hoá, dịch vụ đó".

Hàng hóa, dịch vụ trưng bày, giới thiệu phải là những hàng hóa, dịch vụ kinh doanh hợp pháp trên thị trường, phải tuân thủ các quy định về chất lương hàng hóa và ghi nhãn hàng hóa. Riêng đối với trường hợp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam phải là hàng hóa được phép nhập khẩu và Việt Nam; hàng hóa tạm nhập khẩu trên trưng bày, giới thiệu phải tái xuất khẩu sau khi kết thúc nhưng không quá 6 tháng kể từ ngày tạm nhập khẩu.

Trong hoạt động trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có quyền trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ; lựa chọn các hình thức trưng bày, giới thiệu phù hợp; tự mình tổ chức hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ để trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của mình.Văn phòng đại diện của thương nhân không được trực tiếp trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của thương nhân do mình đại diện, trừ việc trưng bày, giới thiệu tại trụ sở của Văn phòng đại diện đó. Trong trường hợp được thương nhân ủy quyền, Văn phòng đại diện có quyền ký hợp đồng với thương nhân kinh doanh dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ để thực hiện trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ cho thương nhân mà mình đại diện.Thương nhân nước ngoài chưa được phép hoạt động thương mại tại Việt nam muốn trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của mình tại Việt Nam phải thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ Việt Nam thực hiện.

Thứ tư, hoạt động hội chợ, triển lãm thương mại.

Điều 129 Luật Thương mại năm 2005 quy định về hội chợ, triển lãm thương mại như sau:"Hội chợ, triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ."

Như vậy, hội chợ, triển lãm thương mai có thể được tổ chức tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài. Trường hợ thương nhân trực tiếp tổ chức hoặc tham gia hội chợ, triển lãm tại nước ngoài phải tuân theo các quy định về xuất khẩu hàng hóa. Hội chợ, lãm thương mại cổ chức tại Việt Nam phải đăng ký và phải được xác nhận bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước.

Ngoài ra, Luật Thương mại năm 2005 quy định về quyền tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại như sau: "1. Thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có quyền trực tiếp tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại về hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại thực hiện. 2. Văn phòng đại diện của thương nhân không được trực tiếp tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại. Trong trường hợp được thương nhân ủy quyền, Văn phòng đại diện có quyền ký hợp đồng với thương nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại để tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại cho thương nhân mà mình đại diện. 3. Thương nhân nước ngoài có quyền trực tiếp tham gia hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại Việt Nam thay mặt mình tham gia hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam. Trong trường hợp muốn tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam thì thương nhân nước ngoài phải thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại Việt Nam thực hiện."

Hoạt động xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp đã và đang phát triển với tốc độ nhanh chóng cả về chất và lượng. Xúc tiến thương mại đã đóng góp một phần không nhỏ vào thành quả của các doanh nghiệp trong việc gia tăng doanh số bán hàng và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Việc tiến hành các hoạt động xúc tiến thương mại thì thương hiệu và hình ảnh của doanh nghiệp sẽ được nhiều người biết đến hơn, tạo điều kiện thúc đẩy việc kinh doanh được tốt nhất.

Luật gia Nguyễn Thị Hoài Thương - Phòng tư vấn doanh nghiệp của Công ty Luật TNHH Everest, tổng hợp.

Khuyến nghị:
  1. Để có tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198.
  2. Nội dung tư vấn pháp luật doanh nghiệp mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.