Hình thức giảm vốn điều lệ của Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)?

Tôi đang là thành viên của công ty TNHH 2 thành viên. Hiện nay, công ty tôi muốn giảm vốn điều lệ thì có được không? Nếu được thì có thể thực hiện bằng những cách nào?

Hỏi: Hiện tại tôi đang là thành viên của công ty TNHH 2 thành viên. Hiện nay, công ty tôi muốn giảm vốn điều lệ thì có được không? Nếu được thì có thể thực hiện bằng những cách nào? (Nguyễn Đình Vinh - Nam Định)
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Phạm Thị Phương - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Căn cứ Điều 68 Luật Doanh nghiệp 2014 như sau:
“3. Công ty có thể giảm vốn điều lệ bằng các hình thức sau đây:
a) Hoàn trả một phần vốn góp cho thành viên theo tỷ lệ vốn góp của họ trong vốn điều lệ của công ty nếu đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn 02 năm, kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho thành viên;
b) Công ty mua lại phần vốn góp của thành viên theo quy định tại Điều 52 của Luật này;
c) Vốn điều lệ không được các thành viên thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo quy định tại Điều 48 của Luật này”

Như vậy, theo quy định này, để giảm vốn điều lệ, công ty anh có thể lựa chọn thực hiên bằng một trong ba hình thức như trên. Để hoàn thành việc giảm vốn điều lệ, theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Luật Doanh nghiệp 2014 công ty anh phải thông báo bằng văn bản đến Cơ quan đăng ký kinh doanh. Thông báo phải có các nội dung chủ yếu sau đây: Tên, địa chỉ trụ sở chính, mã số doanh nghiệp; Vốn điều lệ; số vốn dự định tăng hoặc giảm; Thời điểm, lý do và hình thức tăng hoặc giảm vốn; Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.


Khuyến nghị:

1. Để có tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198.

2. Nội dung tư vấn pháp luật doanh nghiệp mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.

3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.