Hết thời hiệu chia thừa kế, di sản được phân chia như thế nào?

Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế

Hỏi: Hiện nay gia đình tôi ( bao gồm bố và bốn chị em tôi) muốn chia tài sản chung (vì mẹ tôi đã mất năm 1997) nên đã hết thời hiệu chia thừa kế. Đề nghị Luật sư tư vấn, khi tiến hành chia tài sản chung này thì người được hưởng tài sản bao gồm những ai? (Nguyễn Diệu Linh - Sơn La)

>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Văn Nam - Tổ tư vấn pháp luật thừa kế của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế như sau: "Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế".

Tuy nhiên, Nghị quyết 02/2004 của Hội đồng thẩm phán nhân dân tối cao có hướng dẫn chi tiết về những trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế như sau: "1. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau: Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung. 2. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... Thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản".

Như vậy, trường hợp của gia đình anh (chị) vẫn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết việc phân chia di sản thừa kế do mẹ anh (chị) để lại bình thường và việc chia mảnh đất này được chia đều hoặc chia theo thỏa thuận của những người thừa kế. Do mẹ anh (chị) mất không có di chúc nên việc chia thừa kế được thực hiện theo pháp luật. Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi,con đẻ, con nuôi của người chết và những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần thừa kế bằng nhau. Nhưng trong 10 năm của thời hiệu khởi kiện về thừa kế mà những người thừa kế không có tranh chấp nên hiện tại, di sản thừa kế của mẹ anh (chị) đã chuyển thành tài sản chung của tất cả những người thừa kế hàng thứ nhất. Vì vậy, nếu bây giờ chia di sản đó thì tất cả những người thừa kế có thể ngồi lại và thỏa thuận về phần được nhận của mỗi người ( có thể không bằng nhau) hoặc Tòa án sẽ chia đều cho tất cả những người thừa kế.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: info@luatviet.net.vn.
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật thừa kế mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.